Chợ Cán Cấu

cho-can-cau

Chợ Cán Cấu cách Bắc Hà chừng 18km. Hỏi Cán Cấu là gì thì không ai biết. Bác tài lại pha trò : “Vừa cắn vừa cấu”. Trời tờ mờ sáng, người dân tộc từ các buôn làng đã lũ lượt kéo nhau về chợ. Đi bộ hoặc thồ bằng ngựa, họ mang theo các đặc sản, phần lớn là các hàng dệt, may mặc, nông sản, gia súc. Tám giờ sáng chúng tôi đến thì chợ đã đông.

cho-can-cau

chợ cán cấu

Chợ họp trên một ngọn đồi thoai thoải cạnh đường xe. Lán trại sơ sài mang tính hoang dã núi rừng. Chợ Cán Cấu trước kia gần trong thị trấn Bắc Hà, nhưng cứ mỗi lần nhà nước  xây cất chợ thành khang trang thì bà con lại chuyển đi nơi khác. Họ muốn họp chợ ngoài trời, giữa thiên nhiên núi rừng hơn là trong các đình chợ được xây cất theo kiểu miền xuôi. Cũng dễ hiểu, do tập tục từ bao đời nay, họ sống cuộc đời du mục tự do, chợ phiên là nơi họ có thể mang bán hay mua đủ các thứ mà không cần phải xếp loại hay theo khuôn mẫu nào. Những mặt hàng kềnh càng như ngựa lưà heo gà mà đưa  vào một vị trí cố định nào đó thì quả là bất tiện. Người đi chợ muốn tùy nghi bày biện hàng hoá của mình.

Chợ Cán Cấu mỗi tuần họp vào ngày thứ bảy. Một bãi chợ hoàn toàn của người dân tộc, Mông Đen, Mông Đỏ, Mông Hoa, Giao, Tầy... Chợ không phân chia khu vực, tuy nhiên hàng hóa cũng tập trung theo từng khoảnh riêng. Hàng ăn xếp theo một dãy, vải vóc một khu. Lừa ngựa heo gà bán ngay trên đường, hoặc rải rác đó đây ở những khoảnh đất trống trãi. Nhìn xuống bãi chợ, khói bếp  tỏa lên giữa những lều tranh lụp xụp, chợ lúc nhúc người, áo màu xanh đỏ, bên kia xa là núi đồi phủ sương lam, lác đác vài ba nhà sàn. Cảnh thật thanh bình  hoang sơ.

Du khách từ Hà Nội lên, Sapa xuống hay Điện Biên qua, đều nghỉ lại Bắc Hà một đêm,  hôm sau dự phiên chợ.

Đi chợ, đa số người H’Mong. Các họ tộc H’Mong phân biệt bằng màu sắc khăn quấn đầu. Người Kinh hay đùa bảo rằng H’Mong là  “hơ mông”, vì mông bị ướt. Từ đó có một số H’Mong chỉ muốn gọi mình là Mông chứ không “hơ mông”.

Người H’Mong, một số ít lớn tuổi nói tiếng Việt không được rõ, đám trẻ nói rành hơn nhưng vẫn giữ tiếng mẹ đẻ. Đôi lúc hỏi người già một vài điều, phải nhờ mấy thanh niên thông dịch. Tôi lần xuống khu vực chợ để tìm đôi nét đặc biệt. Hình ảnh lạ mắt vẫn là lối cùi con sau lưng, hoặc những chân dung có khăn quấn đầu.  Một anh Tây râu quai nón cứ rà rà theo tôi. Qua góc đồi bên kia có khoảng trống, nhờ một chị H’Mong có con nhỏ, ngồi xuống một tảng đá, tôi đang sửa soạn máy thì đã nghe anh Tây bấm lách tách sau lưng. Nhờ mỗi người mẫu chụp xong tôi trả tiền,  anh râu quai nón thì hoàn toàn miễn phí. Cho đến lúc tôi trở lại xe, anh ta cũng lên một xe thồ đi luôn. Người Âu Mỹ nói chung là Tây, họ đi du lịch rất gọn nhẹ. Vì lên vùng cao, phải len lỏi vào bản làng, thôn xóm nên họ dùng xe thồ cá nhân hoặc đôi ba người đi một xe Jeep. Đất nước họ ngập tràn ánh sáng văn minh, cái gì cũng máy móc, đời sống tổ chức theo những khuôn mẫu cứng ngắc, nay đến một nơi mọi thứ đều hoang sơ dung dị đầy màu sắc thiên nhiên lạ lùng, họ tỏ ra thích thú vô cùng.

Rời chợ Cán Cấu chúng tôi quay lại ngã ba Yên Bái để đi Lào Cai. Về đến Lào Cai vừa đúng bữa trưa. Trời nắng to nhưng không gắt, khí hậu miền sơn cước bao giờ cũng dễ chịu.

Chợ Cốc Ly

cho-coc-ly

 Chợ Cốc Ly ngay bên cây cầu treo bắc qua dòng sông Chảy là chợ Cốc Ly. Chợ không lớn nhưng lại rất quan trọng đối với đồng bào dân tộc ở phía tây huyện Bắc Hà (Lào Cai). Mỗi tuần họp một lần vào thứ ba, Cốc Ly là nơi họp mặt, trao đổi hàng hóa của người Mông hoa, người Dao khuyển (còn gọi là Dao đen) và người Nùng.

Cũng giống như các phiên chợ vùng cao khác, ở Cốc Ly người ta bán đủ thứ, từ sản vật địa phương cho đến đồ dùng được mang từ dưới xuôi lên hay từ Trung Quốc về. Người dân đi chợ không chỉ để mua sắm mà còn để chơi, ăn uống gặp gỡ giao lưu và tìm bạn. Ở đây có từng khu riêng biệt; như khu bán trâu, bán ngựa, khu bán hoa quả, đồ sinh hoạt và ăn uống.

Du khách du lịch sẽ được tận mắt ngắm nhìn trang phục của các dân tộc và nghe tiếng nói của họ. Các cô gái Mông súng sính trong bộ váy áo sặc sỡ, e lệ với chiếc ô che ngang trên đầu. Họ thường tập trung ở đầu cầu để khoe váy áo và quan trọng hơn là để tìm bạn. Đây cũng là nét khác biệt của chợ Cốc Ly so với nhiều phiên chợ khác của đồng bào dân tộc ít người.

Sau khi thăm chợ, du khách có thể lên thuyền (phải đặt trước) xuôi dòng sông Chảy. Dòng sông rất đẹp và nên thơ với nhiều đoạn thắt lại bởi hai dãy núi thẳng đứng và những đoạn lại mở rộng ra với tầm nhìn xa tít.

cho-coc-ly

chợ cốc ly

 Hai bên bờ là những bãi cát đẹp, những làng bản của người Tày, người Mông hoa, nhiều thác nước trắng xóa trông xa như những dải lụa trắng phất phơ trong gió. Thuyền sẽ đỗ lại hang Tiên cho bạn khám phá vẻ đẹp kỳ thú của những măng nhũ đá được tích tụ hàng triệu năm. Chuyến du thuyền kết thúc tại cầu Bảo Nhai. Xe sẽ đợi bạn ở đó để về Lào Cai, Sapa hay Bắc Hà. Đây là tuyến du lịch rất hấp dẫn và bổ ích còn ít người biết đến. Nó rất thích hợp với những du khách thích tìm hiểu văn hóa và yêu thiên nhi

Bãi đá cổ Sapa

bai-da-co-sa-pa

Bãi đá khắc cổ Sapa trải ra trên địa phận của ba xã Tả Van, Hầu Thào và Sử Pan, nằm trong thung lũng Mường Hoa với diện tích khoảng 8 km­2. Nằm ngay bên đường đi quanh co dốc núi, bãi đá khắc cổ gồm 159 tảng đá lớn nhỏ nằm lẫn trong cây lá, nằm sát ngay bên đường hay giữa ruộng lúa nước… thoạt tiên chẳng có ấn tượng gì. Nhưng xuống xe, bước chân theo hướng dẫn viên du lịch để nghe giới thiệu và tận mắt chứng kiến, xem xét các tảng đá, du khách mới thấy ngỡ ngàng trước kỳ công nhân tạo đã bao đời mà chưa có lời giải đáp nào thỏa đáng

bai-da-co-sa-pa

bãi đá cổ sapa

Tuy SaPa không phải là nơi duy nhất phát hiện ra các tảng đá khắc vì trên thế giới cũng có hàng chục điểm tương tự như vậy nhưng đối với Việt Nam, đây vẫn là một điều kỳ diệu, chứng tỏ con người từ xa xưa đã bám trụ vững vàng trên mặt đất, chế ngự thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Nếu chỉ xét về mật độ tập trung các tảng đá thì bãi đá khắc Tả Van xứng đáng xếp hàng đầu. 159 tảng đá dãi dầu mưa nắng vẫn trơ trơ, còn rõ nét khắc hình họa, nét chữ viết ở dạng sơ khai và tiến tới hoàn chỉnh, được ví như 159 tấm bia đá cổ xưa nhất Việt Nam. Nhìn kỹ vào các tấm bia, ta có thể nhận ra các hình vẽ như hình vuông, hình chữ nhật, các nét vạch đơn, vạch đôi, những đường song song và những đường cắt ngang, những hình người, hình chim thú, cảnh sinh hoạt… Ta có thể có những cách đoán định và lý giải đó là hình đồ bản, là ghi chép về của cải, về thời tiết, là quan niệm về đời sống cổ xưa… nghĩa là thoải mái thả hồn vào tưởng tượng.

Gần đây, các nhà nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu các cảnh sinh hoạt được khắc trên các tảng đá. Đặc biệt, cảnh nam nữ ân ái để duy tri và phát triển nòi giống được mô tả theo mô típ khá quen thuộc, có nét gần gũi với các hình vẽ trên các di vật đồ đồng có niên đại cách đây khoảng 2500-2600 năm đã được tìm thấy ở Việt Nam. Đó chính là hình ảnh thể hiện tục thờ “sinh thực khí”, thể hiện tín ngưỡng phồn thực rất tự nhiên, thuần phác của người Việt cổ. Như vậy, có thể ước đoán tuổi của các hình khắc, nét vẽ trên đá ở SaPa là trên dưới 2500 năm. Qua đó, có thể thấy được bàn tay, trí óc người Việt khi ấy đã khá phát triển, củng cố thêm nhận định của giới khoa học cho rằng Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại

Thú vị là thế mà bãi đá khắc cổ SaPa mới chỉ được phát hiện ra từ năm 1923 do công của nhà Đông dương học nổi tiếng người Pháp gốc Nga tên là Vichto Gôlubép (Victor Goloubev). Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã đến đây tìm hiểu và giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Với khách du lịch nước ngoài, nhất là người Pháp, một khi đã đến Sa Pa, họ thường dành thời gian hàng giờ, hàng buổi lưu lại đây để nhìn ngắm, so sánh với các di tích đá khắc ở Sereda Capivara (Braxin), ở Boyne (Ailen). Matopo (Dimbabuê) hay ở một số điểm trên sa mạc Sahara mênh mông biển cát. Đối với người Việt Nam, thăm bãi đã khắc cổ Sapa để có thêm điều kiện so sánh với các hình khắc trên đá, trên sừng thú hay trên di vật bằng kim loại đã từng được

Phiên chợ vùng cao

phien-cho-vung-cao

Mất 20 phút chạy xe từ thị trấn Mường Khương, tôi đến Lùng Khấu Nhin đúng 10 rưỡi sáng nhưng ơn trời là chợ vẫn đông vui nhộn nhịp. Chợ Lùng Khấu Nhin họp phiên vào sáng thứ 5 hàng tuần, và là một trong số những phiên chợ cổ có tiếng của tỉnh Lào Cai và cả của một vùng Tây Bắc rộng lớn.Cũng như các phiên chợ vùng cao khác, Lùng Khấu Nhin tràn ngập những màu sắc rực rỡ của váy áo, của chăn đệm, của bắp cải xanh mướt, quýt vàng ruộm.

phien-cho-vung-cao

phiên chợ vùng cao

Ngay từ đỉnh dốc khi còn cách chợ 1 quãng, sắc tươi tắn đấy đã hiển hiện, và càng nổi bật hơn giữa núi rừng trơ trọi và bầu trời ảm đạm. Xung quanh con đường chính chạy dọc qua chợ, người ta bày bán rau quả, củ, nồi xoong, vật dụng cá nhân. Từ đường chính rẽ vào chợ là nơi bán váy vóc, thổ cẩm, len, chăn màn rất thu hút khách du lịch…

Những mảnh vải hoa sặc sỡ, những chiếc váy thổ cẩm đầy hoạ tiết xoè gọn gàng trên những chiếc dây treo. Cạnh đó, hai dãy hàng quán bán thắng cố, chè, đồ ăn.. được giăng bởi các tấm bạt xanh, nghi ngút khói bốc và túm tụm cánh đàn ông áo đen tảfủ ngồi chè chén say sưa. Song song với hai dãy quán này là khu nhà xây khoảng 50m2, phía trên khắc dòng chữ “CHỢ LÙNG KHẤU NHIN”, bên trong cũng bày bán quần áo váy vóc, nhưng đậm chất quần áo như chúng ta hay mặc bây giờ. Phía cuối khu nhà này mới là gian hàng thổ cẩm.

Người mua bán ở đây từ khắp các dân tộc H’Mong, Nùng, Mán, Kinh … nhưng số người dân tộc biết nói tiếng phổ thông thành thạo không nhiều.

Chúng mình cùng dạo chợ xem có mua được gì không nào. Những chú lợn được buộc dây như chiến mã… mỗi khi muốn đi đâu, bà chủ chỉ cần giật dây, là hai chú phi như bay, bà chủ chỉ việc lật đật chạy theo. “Lợn ỉ bao tiền hả bác?”

Đứa thì thập thò sau lưng mẹ, đứa lại ngủ gà ngủ vịt, đứa thì gặm mía, ăn bánh, đứa thì chỉ có mỗi nhiệm vụ là nhìn một cách ngạc nhiên tất cả những người xung quanh, rồi lại giấu tịt mặt vào lưng mẹ… Và trẻ con, cứ ngoan lành mà theo mẹ, không khóc quấy bao giờ.

Thác tình yêu

thac-tinh-yeu

Thác Tình yêu thuộc địa phận xã San Sả Hồ, huyện SaPa, tỉnh Lào Cai, cách thị trấn Sa Pa khoảng 4km theo hướng tây nam.

Đặc điểm: Đây là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng lý tưởng và đến đây, du khách sẽ có dịp tìm hiểu về huyền thoại một câu chuyện tình đầy lãng mạn.

thac-tinh-yeu

thác tình yêu

Đường dẫn du khách đến thác Tình yêu là một con đường đất đỏ chạy qua khu rừng trúc xanh mướt, bạt ngàn mà thấp thoáng đâu đó, ánh lên vẻ đẹp dịu dàng của loài hoa đỗ quyên với những gam màu đỏ, trắng, vàng khá tươi tắn; hòa trong cảnh đẹp nơi đây, du khách sẽ thấy thoảng thoảng bên tai mình âm thanh xào xạc của cây rừng đang đu đưa trong gió… Khi đã đi hết đoạn đường này, du khách sẽ gặp một dòng suối, tiếp tục men theo dòng suối là du khách sẽ tới thác Tình yêu.

Thác Tình yêu có độ cao gần 100m. Thác bắt nguồn từ đỉnh Phan Si Păng rồi mang theo hơi lạnh của núi rừng chảy qua nền địa hình cao, dốc; đổ xối xả, ào ạt xuống dòng suối Vàng tung bọt trắng xóa. Nhìn từ xa, du khách sẽ thấy dòng thác giống hình một chiếc nón; thấp thoáng sau từng lớp nước mỏng chảy ở hai bên rìa thác là một thảm thực vật rừng xanh tốt; dưới chân thác, con suối Vàng óng ánh nghiêng mình uốn lượn với hai bên bờ là những thảm cỏ xanh mượt trải dài dưới chân những bụi trúc gai…

Được gọi là thác Tình yêu vì theo truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xưa, các nàng Tiên nhà Trời thường lui xuống đây tắm mát. Cứ mỗi lần xuống tắm, các nàng đều rất say mê, thích thú trước cảnh đẹp và không gian nơi đây. Một lần kia, nàng Tiên thứ bảy phát hiện ra có một chàng tiều phu đang nấu cơm bên dòng suối Vàng, trong lúc chờ đợi cơm chín, chàng đã lấy cây sáo trúc ra thổi. Tiếng sáo của chàng lúc trầm, lúc bổng; vang vọng cả núi rừng. Một lần, vì quá mải miết lắng nghe tiếng sáo của chàng, nàng quên mất là phải về Trời, rồi không chịu được đêm lạnh nơi núi rừng, nàng đã đến bên đống lửa của chàng sưởi nhờ.

Đêm ấy, bên ánh lửa bập bùng, chàng tiều phu đã dùng chiếc sáo của mình thổi cho nàng nghe những tình khúc mê hồn, chàng thổi hay đến nỗi mà cả hươu, nai, hổ, báo và chim rừng… cùng nhảy múa và hòa theo giai điệu du dương của tiếng sáo,… Không gian sôi động đó kéo dài cho đến khi ánh mặt trời lấp ló qua những ngọn cây, nàng mới vội vã bay về trời. Rồi ngày nào cũng thế, cho đến khi nàng bị nhà Trời phát hiện và không cho nàng theo các chị xuống thác Tình yêu tắm nữa. Nàng nhớ chàng tiều phu đến da diết, chiều chiều, nàng đều ra cổng trời nhìn xuống thác Tình yêu để mong được nghe tiếng sáo của chàng tiều phu nhưng không thấy chàng đâu; nàng quá buồn phiền và cuối cùng biến thành một loài chim lông vàng bay quanh đỉnh núi và luôn miệng kêu 3 tiếng Ô Qui Hồ da diết không nguôi.

Trong không gian bao la và cảnh đẹp nơi đây, thác Tình yêu thực sự là điểm du lịch tuyệt vời của du khách du lịch. Đến với thác Tình yêu, là du khách tìm về cội nguồn của một câu chuyện tình đầy lãng mạn.

Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn

vuon-quoc-gia-hoang-lien-son

Vườn Quốc gia Hoàng Liên thuộc địa phận thị trấn SaPa, các xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, huyện Sa Pa; một phần huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai và hai xã Mường Khoa, Thân Thuộc, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Đặc điểm: Đây là điểm du lịch sinh thái lý tưởng và phù hợp với nghiên cứu khoa học.

vuon-quoc-gia-hoang-lien-son

vườn quốc gia hoàng liên sơn

Từ thị trấn Sa Pa, du khách khám phá sa pa đi qua một đoạn dốc quanh co khoảng 20km, du khách sẽ đến với đèo Ô Quy Hồ – đèo Hoàng Liên, nơi đây thuộc địa phận Vườn Quốc gia. Tiếp tục men theo con đường mòn uốn lượn quanh triền núi ở độ cao trên 1.000m so với mặt nước biển, du khách sẽ bao quát hết được phong cảnh núi rừng nơi đây – một khu rừng với bạt ngàn cây xanh được phủ bởi những dải nắng vàng óng ánh đan xen vào nhau… thấp thoáng trong đó là từng vạt hoa đỗ quyên, hoa lan rừng, hoa mận… như đang cùng nhau khoe sắc; phía xa xa, những bản làng người dân tộc lấp ló qua từng làn sương mỏng…

Vườn Quốc gia Hoàng Liên – một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam có tổng diện tích vùng lõi 29.845 ha, bao gồm một hệ thống núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, trong đó có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m và diện tích vùng đệm là 38.724 ha, bao gồm thị trấn Sa Pa, một số xã thuộc huyện Sa Pa, một phần huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và 2 xã thuộc huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên chủ yếu là rừng nguyên sinh với một thảm thực vật rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi cao và một hệ động vật rừng phong phú, đa dạng.

Về hệ thực vật rừng, nơi đây có khoảng hơn 2.000 loài với các loại cây gỗ điển hình như: tống quán sủ, bồ đề, đỗ quyên, pơ-mu, mận rừng…, trong đó có khoảng 66 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam như: bách xanh, thiết sam, thông tre, thông đỏ, đinh tùng, dẻ tùng…, 32 loài quý hiếm như: Loài bách xanh phân bố tại vùng núi đá vôi xã Bản Hồ (SaPa), loài thông đỏ được tìm thấy tại xã Sa Pả (Sa Pa), loài Vân Sam Hoàng Liên – Sam lạnh) phân bố trong vùng lõi vườn quốc gia (ba loài cây này là những nguyên liệu chính dùng để chiết xuất ra nhiều loại thuốc chữa bệnh quý hiếm) và hàng trăm loài thảo dược như: quy, thục, đỗ trọng, hoàng liên chân chim, đỗ quyên, kim giao… Ngoài ra, tại đây người ta còn tìm thấy loài nấm cổ linh chi, nứa Sa Pa – phân bố chủ yếu ở vùng rừng núi cao của Trung Quốc và Việt Nam.

Bên cạnh một hệ thực vật rừng phong phú, hệ động vật rừng cũng rất đa dạng với 66 loài thú, phổ biến là: vượn đen tuyền, hồng hoàng, cheo cheo, voọc bạc má…, trong đó có 16 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; 347 loài chim như đại bàng đốm to, trĩ mào đỏ, chim hét mỏ vàng…; 41 loài lưỡng cư và 61 loài bò sát, trong đó, có loài ếch gai rất hiếm ở Việt nam vừa mới được phát hiện.

Với hệ sinh thái rừng phong phú như vậy,Vườn Quốc gia Hoàng Liên được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất nước ta. Đặc biệt, nơi đây còn bảo tồn, lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc sống trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn Quốc gia; đó là các hoạt động ca múa nhạc của người Mông, Dao,Giáy với những nhạc cụ như: khèn, sáo, kèn, đàn mô; các kiến trúc nhà ở của người dân tộc như: Người Mông ở trên cao, nền nhà thường thấp hơn và kín gió, nguyên liệu làm nhà chủ yếu bằng gỗ, nhà của người Tày ở vùng thấp nên thường là kiến trúc nhà sàn, mái lợp bằng cỏ tranh hay rơm rạ, ngày nay đã được thay bằng ngói.

Đến với Vườn Quốc gia Hoàng Liên, là du khách đến với môi trường du lịch sinh thái hấp dẫn. Tại đây; du khách sẽ cảm nhận được khoảnh khắc giao mùa xuân – hạ – thu – đông chỉ trong vòng 1 tiếng đồng hồ; được thấy những tia nắng xuyên qua từng tán lá rậm rạp, xuyên qua những làn sương mù chiếu xuống những thảm cỏ tranh tươi tốt; được ngắm nhìn những khóm trúc lùn đung đưa mỗi khi có những cơn gió tràn qua… tất cả đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách, nhưng có lẽ ấn tượng nhất vẫn là cảm giác được ngủ lại qua đêm trên lưng chừng núi để hòa mình vào thiên nhiên hùng vĩ của dãy Hoàng Liên Sơn, nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng thác chảy ào ào… và trong không gian bao la, rộng lớn này, du khách thấy mình thật nhỏ bé. Bên cạnh đó, du khách cũng có thể tham gia chương trình du lịch bản làng: đến và nghỉ luôn tại nhà của người dân tộc, du khách sẽ cùng chủ nhà làm những công việc trong gia đình, buổi tối tập trung tại nhà văn hóa cộng đồng để giao lưu văn hóa – văn nghệ. Du khách du lịch cũng có thể cùng người dân nơi đây chơi các môn thể thao truyền thống như: đẩy gậy, bắn cung, kéo co, đi cà kheo… hay đi tham quan bản làng, cối giã gạo, các khu ruộng bậc thang, các nương chàm… của người dân tộc. Đặc biệt, nơi đây còn diễn ra Giải leo núi “Chinh phục đỉnh Phan Si Păng” với qui mô cấp quốc gia cho các vận động viên trong và ngoài nước. Việc tổ chức Giải nhằm mục đích giới thiệu đến bạn bè trong nước và quốc tế về dãy núi Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Si Păng – nóc nhà Đông Dương, giới thiệu về Khu du lịch Sa Pa và Vườn Quốc gia Hoàng Liên – Vườn di sản ASEAN.

Dinh Hoàng A Tưởng

dinh-hoang-a-tuong

Dinh Hoàng A Tưởng nằm ở trung tâm huyện lỵ Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Kiến trúc Dinh Hoàng A Tưởng theo phong cách Á – Âu kết hợp, tạo sự hài hoà, bố cục hình chữ nhật liên hoàn khép kín. Dinh Hoàng A Tưởng được xây dựng từ năm 1914 và hoàn thành năm 1921, chủ nhân là Hoàng Yến Chao dân tộc Tày, bố đẻ của Hoàng A Tưởng. Trải qua hơn 80 năm tồn tại cùng thời gian, phủ bao lớp rêu phong cổ kính vẫn đứng uy nghi nổi trội giữa một nơi dân cư đông đúc, phố xá tấp nập.

dinh-hoang-a-tuong

dinh hoàng a tưởng

Trước năm 1945, Bắc Hà là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, có giai cấp thống trị và bị trị, người bóc lột và kẻ bị bóc lột, trong đó tầng lớp bóc lột là các thổ ti mà điển hình là cha con Hoàng Yến Chao – Hoàng A Tưởng

Trong suốt thời gian trị vì, được thực dân Pháp ủng hộ, cha con Hoàng Yến Chao – Hoàng A Tưởng đã ra sức bóc lột nhân dân, chiếm giữ các vùng đất màu mỡ, bắt dân bản phục dịch hầu hạ nộp các hiện vật có giá trị, đồng thời độc quyền bán muối, hàng tiêu dùng, khai thác lâm thổ sản, thuốc phiện và lương thực, thực phẩm cho các đồn binh Pháp và bọn tay sai. Dựa vào tiềm lực kinh tế, thổ ti Hoàng Yến Chao cho xây dựng một dinh thự bề thế và mời thầy địa lý chọn đất, hướng nhà với hai kiến trúc sư người Pháp và Trung Quốc thiết kế và trực tiếp thi công.

Địa điểm được chọn theo thuyết phong thuỷ trên một quả đồi rộng hướng đông nam, đằng sau và hai bên phải trái có núi, phía trước có suối và núi “mẹ bồng con”. Địa hình tổng thể có thế “sơn thuỷ hữu tình” đẹp, hợp với cảnh quan khí hậu Châu Á nhiệt đới.

Ở giữa sâu vào trong là nhà chính. Hai bên tả, hữu là nhà phụ, trước là bức bình phong, giữa là sân trời. Vào dinh phải bước lên mấy bậc cầu thang từ hai bên lại, rồi tới phòng chờ, sau đó mới bước vào khoảng sân rộng để hành lễ và múa xòe. Nhà chính hai tầng có diện tích 420m². Các cửa nhà hình vòm. Tuy các cửa cao thấp không đều, nhưng cân đối, hành lang có lan can. Trước các cửa đều đắp pháo nổi. Cả hai tầng nhà chính đều có ba gian. Bốn gian hai bên phải trái của cả hai tầng là nơi sinh hoạt gia đình. Gian giữa cả hai tầng dùng làm nơi hội họp. Mặt chính trang trí bằng nhiều hoạ tiết công phu. Hai bên phải và trái có đắp nổi hai câu đối với nội dung chúc gia đình dòng họ hiển vinh…

Hai bên tả hữu là hai dãy nhà ngang có bố cục và kiến trúc giống nhau. Mỗi dãy đều hai tầng nhưng thấp hơn nhà chính, mỗi tầng cũng có ba gian với tổng diện tích 300m² mỗi gian đều có chức năng sử dụng riêng. Tiếp giáp với hai dãy nhà còn có hai nhà phụ cũng gồm hai tầng nhưng kiến trúc đơn giản và dùng làm nhà kho, cho lính và phu ở, tổng diện tích mỗi nhà 160m².

Vật liệu xây dựng gạch ngói sản xuất tại chỗ bằng cách mời chuyên gia Trung Quốc; sắt, thép và xi măng được mua từ dưới xuôi chở bằng máy bay.

Xung quanh có tường xây bao gồm ba cồng (một chính, hai phụ) trổ nhiều lỗ châu mai và có lính gác với số lượng hai trung đội. Tổng diện tích toàn khu nhà lên tới 4.000m². Khu biệt thự này đang được gìn giữ, bảo quản và tôn tạo để khách tham quan du lịch có thể tìm hiểu về lịch sử xã hội vùng dân tộc miền núi một thời đã qua.

1 31 32 33 34 35